Giá thép hôm nay

  • Bộ Công Thương khẳng định doanh nghiệp thép khó trục lợi

    Giá thép dài và phôi thép sẽ tăng ở mức độ nhất định để đảm bảo lợi nhuận hợp lý của ngành sản xuất trong nước nhưng khó có chuyện doanh nghiệp thép lợi dụng chính sách thuế tự vệ để chi phối thị trường và tăng giá quá mức… 

    Thông tin được Bộ Công Thương đưa ra khi giá thép trên thị trường liên tục “nhảy múa” những ngày qua. Trước đó, từ ngày 7-3, Bộ này ban hành quyết định áp dụng thuế tự vệ tạm thời đối với mặt hàng phôi thép và thép dài nhập khẩu từ các thị trường vào Việt Nam, ngay sau đó, giá thép trong nước và thép nhập khẩu đều tăng. Dù quyết định này chỉ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 22-3.

    Thông tin từ Hiệp hội thép Việt Nam, việc giá phôi thép Trung Quốc nhập khẩu vào Việt Nam tăng 100 USD/tấn do giá phôi thép trên thị trường thế giới tăng. Do đó, việc thời gian tới, giá thép dài và phôi thép trong nước sẽ tăng ở một mức độ nhất định để đảm bảo lợi nhuận hợp lý của ngành, không phải của riêng một công ty nào. Việc này phù hợp với mục tiêu của biện pháp tự vệ và để giảm bớt thiệt hại của ngành sản xuất trong nước.

    Tuy nhiên, trước tình hình giá thép tăng mạnh, Bộ Công Thương cũng vừa có công văn gửi các doanh nghiệp đề nghị báo cáo tình hình giá bán mặt hàng phôi thép và thép dài trước và sau khi có Quyết định áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời. Bộ cũng có công văn gửi Hiệp hội Thép Việt Nam đề nghị phối hợp với các thành viên theo dõi giá phôi thép, thép dài và có biện pháp ổn định tình hình thị trường.

    Về các ý kiến cho rằng trong 15 ngày từ khi ban hành quyết định đến lúc có hiệu lực (từ ngày 7-3 đến 22-3) là khoảng thời gian các doanh nghiệp tranh thủ nhập khẩu, đầu cơ tích trữ hàng, Bộ Công Thương cho rằng ý kiến này chưa thỏa đáng vì thời gian này không đủ để hàng hoá có thể được bốc xếp tại cảng đi ở nước ngoài và kịp làm thủ tục thông quan tại cảng đến ở Việt Nam.

    Mặc dù vậy, Bộ này nhìn nhận việc găm hàng tăng giá có thể là hiện tượng xảy ra trong một khoảng thời gian ngắn do tâm lý tích trữ của các nhà nhập khẩu và các doanh nghiệp tiêu thụ thép trên thị trường. Tuy nhiên, với lượng tồn kho lớn của các doanh nghiệp sản xuất thép hiện nay và việc ngành thép của Việt Nam đang hoạt động ở mức khoảng 50% công suất thiết kế (có thể dễ dàng gia tăng sản lượng khi thị trường có tín hiệu tích cực) thì hiện tượng này sẽ sớm chấm dứt .

  • Bộ Công Thương: 34% thép Việt xuất đi Mỹ trùng mã HS với thép Trung Quốc

     Bộ Công Thương vừa phát đi thông tin liên quan đến việc một số báo chí quốc tế đưa tin "90% thép Việt Nam vận chuyển sang Mỹ được sản xuất tại Trung Quốc".

    Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, 9 tháng đầu năm 2017, Việt Nam nhập khẩu 5,5 triệu tấn thép từ Trung Quốc, trị giá 3,17 tỷ USD.

    Trong đó, mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là thép hợp kim cán phẳng (mã HS 7225 3090, 7225 4090), thép mạ hoặc tráng kẽm (HS 7210 4912), thép không gỉ cán phẳng (7219 1300), thép cuộn (HS 7209 1600) và thép dạng thanh, que (HS 7227 2000).
     

    9 tháng đầu năm 2017, Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ 378.164 tấn thép, trị giá 302,9 triệu USD. Nhóm xuất khẩu nhiều nhất là thép mạ crom (HS 7210 6111) đạt 93 triệu USD, chiếm 31% lượng thép xuất khẩu sang Mỹ.

    "Số liệu thống kê của hải quan cho thấy có 11 mặt hàng thép xuất khẩu sang Mỹ có mã HS trùng với mặt hàng thép nhập khẩu từ Trung Quốc, chiếm 34% lượng thép xuất khẩu sang Mỹ. Các mã HS còn lại hoặc không nhập từ Trung Quốc, hoặc lượng nhập rất ít, không đủ để xuất khẩu", Bộ Công Thương cho hay.

    Đến nay, Bộ Công Thương chưa nhận được thông tin nào từ phía Mỹ về việc nước này sẽ tiến hành điều tra mặt hàng thép có nguồn gốc từ Trung Quốc gian lận xuất xứ của Việt Nam khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ.

    Tuy vậy, Bộ Công Thương đang phối hợp với các cơ quan liên quan như Tổng cục Hải quan, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam... và chỉ đạo các đơn vị chức năng thuộc Bộ chủ động theo dõi sát tình hình, đồng thời thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật để phòng tránh gian lận về xuất xứ hàng hóa, gian lận thương mại.
     
    VLXD.org (TH/ VnEconomy)
  • Chênh lệch lượng cung cầu thép 2018 dự báo giảm 10% so với 2017

    Việc Trung Quốc sẽ cắt giảm khoảng 12,5% công suất sản xuất thép tới 2020 và sử dụng các gói kích cầu trong nước, sẽ giúp ảnh hưởng dư thừa thép tới thế giới giảm đáng kể.
    Với nhu cầu nội địa tăng trưởng tốt và các biện pháp cắt giảm nguồn cung mạnh tay, bức tranh ngành thép Trung Quốc đã trở nên sáng hơn, ảnh hưởng từ sự dư thừa công suất của Trung Quốc đối với ngành thép thế giới đã giảm đáng kể. Giá thép thế giới và Việt Nam trong 2 năm trở lại đây hưởng lợi từ chính sách của Trung Quốc.
    Theo CTCK Bảo Việt (BVSC), Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục cắt giảm công suất khoảng 30 triệu tấn thép trong năm 2018, hoàn thành kế hoạch giảm 150 triệu tấn thép của giai đoạn 2016 – 2020. Ngoài ra, nguồn cung 2018 cũng giảm so với 2017 khi các lò cao tần luyện thép phải dừng hoạt động từ 30/6/2017.
    Chính sách cắt giảm sản lượng thép để giảm ô nhiễm tại các tỉnh miền Bắc sẽ kéo dài đến tháng 3/2018. Mức sản lượng sụt giảm khoảng 12% sẽ tiếp tục hỗ trợ giá thép ít nhất đến cuối quý I/2018. Hiệp hội thép Thế giới dự báo tổng tiêu thụ thép toàn cầu năm 2018 tăng 1,6% nhờ nhu cầu tăng trưởng từ các quốc gia đang phát triển và quá trình phục hồi kinh tế thế giới.
    Trong khi đó, Hiệp hội thép Thế giới dự báo tổng tiêu thụ thép toàn cầu năm 2018 tăng 1,6% nhờ nhu cầu tăng trưởng từ các quốc gia đang phát triển và quá trình phục hồi kinh tế thế giới.
    Với nhu cầu tiêu thụ ổn định và cắt giảm công suất tại Trung Quốc, chênh lệch cung cầu thép thế giới năm 2018 được dự báo ở mức 9 triệu tấn, giảm 10% so với 2017 và giảm 75% so với giai đoạn 2014-2016.
    Áp thuế tự vệ lên thép Trung Quốc sẽ không còn nhiều ý nghĩa với doanh nghiệp nội 
    Theo BVSC, Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất phải lập rào cản với thép Trung Quốc. Trong giai đoạn 2014 – 2016, nhu cầu tiêu thụ nội địa của Trung Quốc yếu và dư thừa công suất đã khiến các doanh nghiệp thép nước này chấp nhận thua lỗ, bán dưới giá thành để đẩy mạnh xuất khẩu.
    Cạnh tranh không lành mạnh và phá giá của Trung Quốc đã ảnh hưởng tới rất nhiều nước lân cận và hàng loạt các biện pháp chống bán phá giá được thực thi trong giai đoạn này. Tính đến nay, thép Trung Quốc đang phải chịu 121 rào cản thương mại.
    Thực tế cho thấy, thuế tự vệ đã có những hiệu ứng tích cực tới ngành thép. Năm 2016, Việt Nam đã áp dụng thuế tự vệ đối với các sản phẩm thép nhập khẩu từ Trung Quốc. Kết quả là sản lượng nhập khẩu phôi thép từ Trung Quốc giảm mạnh, giá bán tăng và các doanh nghiệp trong ngành đã có những kết quả kinh doanh rất khả quan sau khi áp thuế.
    Vấn đề đặt ra là khi thuế tự vệ hết hiệu lực, ngành thép Việt Nam còn có khả năng cạnh tranh với thép Trung Quốc hay không?
    Hiện tại, tình hình tài chính các doanh nghiệp thép Trung Quốc đã khỏe mạnh hơn rất nhiều so với giai đoạn 2014-2016.
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
    Giá phôi và thép xây dựng tại Trung Quốc còn đang cao hơn tại thị trường Việt Nam nhờ chính sách kích cầu tiêu thụ và thắt chặt nguồn cung. Do đó, thuế tự vệ với mục tiêu bảo vệ các doanh nghiệp thép trong nước hiện gần như đã không còn ý nghĩa.
    Trong giai đoạn 2018 – 2020, Trung Quốc sẽ tiếp tục thực thi các biện pháp cải cách ngành thép để tăng tính tập trung, loại bỏ các doanh nghiệp yếu kém và giảm tình trạng dư thừa công suất. Do đó, tình trạng chấp nhận bán lỗ như năm 2015 để xuất khẩu được hàng và gây ảnh hưởng tới các quốc gia lân cận sẽ khó có thể xảy ra.
  • Dự báo giá thép 2 tháng cuối năm giữ mức ổn định

    Đây là dự báo được Cục Quản lý giá – Bộ Tài chính đưa ra trong báo cáo tình hình giá cả thị trường tháng 11 và dự báo tháng 12/2017.

    Thép xây dựng, ước lượng sản xuất đạt khoảng 600 ngàn tấn, tiêu thụ ước đạt 500 ngàn tấn.

    Ở thị trường thế giới, giá chào phôi thép CFR Đông Á ở khoảng 410 – 435 USD/tấn, giá chào phôi CIS khoảng 430 tấn FPB Biển Đen.

    Tại thị trường trong nước, giá bán tại các nhà máy sản xuất thép ở mức 11.200 – 13.800 đồng/kg (chưa bao gồm 10% VAT, chiết khấu bán hàng).

    Giá thép xây dựng bán lẻ trên thị trường cơ bản ổn định, không có biến động lớn. Hiện giá thép bán lẻ tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung dao động ở mức 11.300 – 13.900 đồng/kg, tại các tỉnh miền Nam dao động ở mức 11.400 – 14.200 đồng/kg. 
     
    Nguồn: VLXD.org (TH)
  • Giá thép xây dựng tăng chưa có dấu hiệu dừng lại

    Giá thép xây dựng tăng từ năm 2017 và chưa có dấu hiệu dừng lại khiến nhiều chủ đầu tư, người dân có nhu cầu xây dựng đứng ngồi không yên.

    Theo tìm hiểu giá thép xây dựng đã tăng từ năm ngoái và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Trong khi thép ống chỉ tăng giá theo từng chủng loại.
    Cô Hoa, chủ cửa hàng vật liệu xây dựng chuyên bán thép Hòa Phát và Pomina cho biết, giá thép xây dựng đã tăng mạnh từ mức 12.000 đồng/kg cuối năm 2016 lên mức 15.500 - 16.000 đồng/kg hiện nay.


    Chủ cửa hàng này cũng cho biết, vừa nhận thông báo từ các nhà sản xuất về việc tăng giá 300 đồng/kg vào cuối tuần này hoặc đầu tuần sau. Đến cuối tháng 3, giá thép sẽ tăng thêm 1 nhịp nữa. Như vậy, mỗi tấn thép có thể sẽ tăng thêm 300.000 - 500.000 đồng trong thời gian tới.
    “Thời gian gần đây, chúng tôi liên tục nghe khách hàng phàn nàn, kêu ca về giá nên rất mệt mỏi. Tuy nhiên, cũng không còn cách nào khác, chúng tôi buộc phải tăng do giá của nhà cung cấp tăng”, cô Hoa nói.
    Tương tự, anh Tuấn, chủ cửa hàng kinh doanh sắt, thép trên đường Võ Văn Ngân, quận Thủ Đức (TP.HCM) cho biết, thời gian gần đây, lượng đơn hàng tăng cao đột biến, nhiều lúc không còn đủ lượng để cung cấp cho khách hàng.
    “Nhiều người sợ giá tăng nên đặt tiền trước mua số lượng lớn, trong khi một số đại lý biết giá sẽ còn tiếp tục tăng cao nên đã chủ động găm hàng, khiến nguồn cung càng khan hiếm”, anh Tuấn nói.
    Không chỉ trong nước, giá thép thế giới thời gian qua cũng tăng liên tục. Theo ông Nguyễn Văn Sưa, Phó chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, nguyên nhân chính khiến giá thép trong nước và quốc tế tăng liên tục trong thời gian gần đây là do thị trường thép Trung Quốc sôi động trở lại.
    Ngoài ra, theo ông Sưa, do nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp thép tăng, kéo giá phôi thép, thép cuộn cán nóng và thép thành phẩm tăng theo.
    Cụ thể, thông tin từ Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, hiện giá quặng sắt ở mức 75 - 76 USD/tấn CFR cảng Thiên Tân (Trung Quốc), tăng khoảng 8 USD/tấn so với cuối năm 2017. Giá than mỡ luyện cốc, xuất khẩu tại cảng Úc (giá FOB) cũng tăng 10 - 15 USD, lên 200 USD/tấn so với đầu tháng 2/2018 và tăng 50 - 60 USD/tấn so với cùng kỳ năm 2017.
    Tương tự, giá phôi thép hiện đang ở mức 563 - 565 USD/tấn, tăng khoảng 20 USD/tấn so với đầu tháng 2/2018. So với hồi đầu năm 2018, giá phôi thép đã tăng khoảng 30 USD/tấn.
    Chia sẻ ông Nguyễn Công Tấn, Giám đốc Công ty TNHH Phát triển xây dựng Tấn Tài cho biết, thị trường xây dựng tại TP.HCM đang khá sôi động với nhiều công trình dân dụng được khởi công. Nếu giá sắt thép cứ đà tăng như thế này thì chủ đầu tư và người dân có nhu cầu xây dựng sẽ chịu thiệt.
    Theo ông Tấn, đã hết thời nhà thầu phải chịu lỗ vì giá vật liệu tăng cao. Hiện nay, vật tư lên thì nhà thầu sẽ báo giá xây dựng lên. Còn với những hợp đồng đã ký trước đó, thì sẽ thông báo lại với chủ nhà.
    “Khi làm hợp đồng xây dựng, các nhà thầu và chủ nhà đều thỏa thuận về việc giá cả vật tư. Bởi khi ký hợp đồng và báo giá là tính theo giá vật tư lúc hiện tại, còn khi giá thị trường vật tư thay đổi, chủ nhà phải hỗ trợ thêm một phần chi phí nào đó cho nhà thầu và ngược lại”, ông Tấn nói.
    Theo dự báo của các chuyên gia trong ngành, trong thời gian tới, giá nguyên liệu đầu vào của ngành thép vẫn tiếp tục tăng cao, trong khi thị trường xây dựng đang sôi động với hàng loạt dự án bất động sản lớn, nhỏ được khởi công. Do đó, giá thép sẽ tiếp tục tăng, ít nhất là từ đây cho đến hết tháng 5/2018. Vì vậy, các chủ đầu tư, nhà thầu có nhu cầu mua thép cần tính toán để chủ động nguồn hàng, giảm chi phí xây dựng.
     
    Nguồn: Đầu tư BĐS
  • Giữa "bão" quy hoạch ngành thép, thép Trung Quốc giá rẻ ồ ạt vào Việt Nam

    Trong khi ngành thép trong nước đang "nín thở" trước quyết sách quan trọng liên quan đến vận mệnh của mình thì mặt hàng sắt thép nhập khẩu đã và đang diễn biến hết sức lo ngại. Lượng sắt thép nhập khẩu về Việt Nam tính hết tháng 11/2016 tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ năm trước.

    Theo Tổng cục Hải quan, tính đến hết 15/11, Việt Nam nhập 16,2 triệu tấn sắt thép các loại, trị giá 7 tỷ USD, đơn giá 437 USD/tấn. Tính chung, nhập khẩu thép về Việt Nam tăng gấp gần 1,6 lần so với cùng kỳ năm trước(khoảng 10 triệu tấn).

    Đáng chú ý, thị trường nhập sắt thép chủ yếu của Việt Nam vẫn là Trung Quốc, theo số liệu tính đến hết tháng 10/2016, Việt Nam nhập khẩu 9 triệu tấn sắt thép từ Trung Quốc, với giá trị kim ngạch 3,6 tỷ USD, đơn giá 400 USD/tấn.

    So với tổng nhập thếp 15,4 triệu tấn, kim ngạch 6,5 tỷ USD, đơn giá 422 USD/tấn trong tháng 10/2016, sắt thép nhập khẩu từ Trung Quốc đã chiếm gần 60% về lượng và giá trị nhập khẩu.

    Trên thực tế, lượng sắt thép nhập khẩu từ Trung Quốc luôn thấp hơn nhiều so với giá sắt thép của các DN sản xuất trong nước và giá sắt thép Việt Nam xuất khẩu.

    Theo báo cáo của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), tính đến hết tháng 11/2016 giá thép cuộn cán nóng (HCR) tại thị trường Đông Nam Á và Việt Nam chào bán bình quân chỉ ở mức 483 - 488 USD/tấn. Giá thép thanh cũng là 425 - 429 USD/tấn. Như vậy, mức giá này luôn cao hơn nhiều so với giá sắt thép nhập khẩu bình quân từ Trung Quốc về Việt Nam.

    Vì sao sắt thép Trung Quốc về Việt Nam rẻ hơn cả sắt thép trong nước và giá sắt thép nhập khẩu bình quân của Việt Nam từ các thị trường như Nga, Indonesia hay Hàn Quốc, trao đổi với PV Dân Trí, ông Hồ Nghĩa Dũng, Chủ tịch VSA cho hay: "Hiện năng lực sản xuất ngành thép của Trung Quốc hàng tỷ tấn mỗi năm, khoảng 30% được sử dụng trong nước còn hầu hết là để xuất khẩu ra nước ngoài. Thép Trung Quốc có lợi thế sản xuất quy mô, lại được chính sách hỗ trợ giá khi xuất khẩu từ Chính phủ, các ngân hàng xuất khẩu của nước này. Do đó, giá thép Trung Quốc có lợi thế cạnh tranh rất lớn và nếu so sánh ngang giá, thép Trung Quốc không có đối thủ".

    Cũng theo lời của Chuyên gia Kinh tế Lê Đăng Doanh, hiện tượng giá thép Trung Quốc rẻ lấn át, cạnh tranh về mọi phương diện đối với Việt Nam là do sắt thép trong nước đắt đỏ do công nghệ lạc hậu, manh mún và giá trị gia tăng thấp. Đáng nói, giá thép Trung Quốc còn được hưởng lợi hơn khi Việt Nam bắt buộc phải thực hiện cơ chế xóa bỏ thuế quan trong Hiệp định Thương mại tự do song phương ASEAN và Trung Quốc. Ở đây, thép và phôi thép Trung Quốc nằm trong hơn 3.600 mặt hàng mà Việt Nam và nhiều nước ASEAN phải dỡ bỏ thuế ngay từ năm 2015 đến 2018.

    Theo đó, tại Thông tư số 166/2014 của Bộ Tài chính, thuế đối với nhiều mặt hàng sắt thép từ Trung Quốc vào Việt Nam từ năm 2015 bị cắt bỏ từ 55% và 25% (trước 2010) xuống mức thấp nhất là 0%. Trong đó thép thanh không hợp kim có mức thuế cao nhất là 20%, phôi thép, quặng có mức thếu 5% và đặc biệt thép cuộn cán nóng của Trung Quốc chỉ chịu thuế 0% khi vào Việt Nam.

    Thông tin mới đây, Bộ Công Thương trong dự thảo lần 2, quy hoạch ngành thép đến năm 2025 và định hướng năm 2035 đã loại bỏ 12 dự án thép ra khỏi quy hoạch. Tuy nhiên, đồng thời với việc loại bỏ 12 dự án ngành thép, Bộ này đã quyết định tăng sản lượng sản xuất của toàn ngành thép lên gấp đôi, gấp ba so với dự thảo ban đầu.

    Đáng nói, ngành thép trong nước đang có nguy cơ cạnh tranh rất khó ngay tại nội địa, không nhiều cơ hội cho xuất khẩu. Bên cạnh đó, Việt Nam đã và đang mở cửa thị trường nội địa, xóa bỏ thuế với nhiều nước sản xuất thép lớn như Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Úc và nhiều nước Đông ÂU.

    Về thay đổi tổng sản lượng toàn ngành, so với dự thảo lần 1 trước đó không lâu, dự thảo lần 2 quy hoạch ngành thép của Bộ Công thương tăng sản lượng gang lỏng và sắt xốp từ 8 triệu tấn lên 21 triệu tấn (năm 2020), 15 triệu tấn lên 46 triệu tấn (năm 2025) và từ 30 triệu tấn lên 55 triệu tấn (năm 2035). Cùng đó, sản lượng sản xuất phôi từ 18 triệu tấn lên 32 triệu tấn (năm 2020), từ 27 triệu tấn lên 57,3 triệu tấn (năm 20250 và từ 52 triệu tấn lên 66,3 triệu tấn (năm 2035). Mức tăng của dự thảo mới so với bản trước từ 27% đến 55% tổng sản lượng sản phẩm.

    Một diễn biến đáng chú ý là Bộ Công Thương đã điều chỉnh xây dựng khu liên hợp thép Cà Ná từ 5 giai đoạn xuống còn 3 giai đoạn, rút ngắn thời gian đưa dự án này vào sản xuất nhưng vẫn giữ nguyên sản lượng là 16 triệu tấn gang/sắt xốp theo công nghệ lò cao và 16 triệu tấn phôi thép.

  • Sản xuất công nghiệp 2 tháng đầu năm 2018 tăng so với cùng kỳ

    Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 2/2018 ước tính giảm 17,1% so với tháng trước và tăng 8% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do tháng 2 năm nay trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán nên số ngày làm việc ít hơn. So với cùng kỳ năm trước, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,7%; sản xuất và phân phối điện tăng 3%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1%; khai khoáng giảm 1,8%.
    Tính chung 2 tháng đầu năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều mức tăng 2,4% của cùng kỳ năm 2017. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,7%, đóng góp 13,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,2%, đóng góp 1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 5,7%[2], đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,3%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.
    Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 2 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất linh kiện điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 38,3% (cùng kỳ năm 2017 tăng 2,4%), chủ yếu do đóng góp của Công ty TNHH SamSung Display Việt Nam với doanh thu 2 tháng đầu năm ước tính đạt 49,3 nghìn tỷ đồng, gấp 2,2 lần cùng kỳ năm trước; khai thác quặng kim loại tăng 25,3% (cùng kỳ năm 2017 giảm 9%); sản xuất kim loại tăng 21,1%, trong đó có sự đóng góp của Tập đoàn Formosa mới đi vào sản xuất quy mô lớn với 2 tháng đầu năm đạt 475,5 nghìn tấn thép, gấp 11,8 lần cùng kỳ năm trước; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 20,2% (cùng kỳ năm 2017 tăng 2,6%); thoát nước và xử lý nước thải tăng 20,1%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 5% (dầu thô khai thác giảm 4,9%; khí đốt thiên nhiên tăng 16,8%); khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 4,5%; sản xuất thuốc lá tăng 2,9%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 0,5%; hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ và quặng giảm 1,5%.
    Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 2 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ti vi tăng 73,9%; sắt thép thô tăng 40,5%; sữa bột tăng 23,7%; khí hóa lỏng (LPG) tăng 21,2%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo tăng 20,7%; xi măng tăng 19%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 16,8%; thức ăn cho thủy sản tăng 16%; điện thoại di động tăng 14,6%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Thuốc lá điếu tăng 2,9%; bột ngọt tăng 1,7%; giày, dép da tăng 1,4%; thức ăn cho gia súc giảm 1,1%; dầu gội đầu, dầu xả giảm 2%; dầu thô khai thác giảm 4,9%; phân u rê giảm 7,9%.
    Chỉ số sản xuất công nghiệp 2 tháng đầu năm 2018 của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số sản xuất của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Bắc Ninh tăng 45,1%; Hải Phòng tăng 20,6%; Quảng Nam tăng 16,9%; Vĩnh Phúc tăng 14,1%; Hải Dương tăng 13,9%; Đà Nẵng tăng 12,4%; Quảng Ninh tăng 10,3%; Hà Nội tăng 10%; Thái Nguyên và Bà Rịa - Vũng Tàu cùng tăng 9,1%; Đồng Nai tăng 8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,2%; Bình Dương và Cần Thơ cùng tăng 5,6%; riêng Hà Tĩnh tăng tới 164,4% do có sự đóng góp của Tập đoàn Formosa.
    Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/2/2018 tăng 3,6% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,3%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 4,3%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 3,2% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 4%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,6%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải giảm 0,4%.
    Lao động trong các doanh nghiệp tại thời điểm 1/2/2018 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Cần Thơ tăng 33,8%; Thái Nguyên tăng 17,3%; Bắc Ninh tăng 15,1%; Vĩnh Phúc tăng 8,3%; Hải Phòng tăng 5,6%; Hải Dương và Quảng Nam cùng tăng 3,2%; Bình Dương tăng 3,1%; Hà Nội tăng 2,2%; Quảng Ninh tăng 1,4%; Đồng Nai tăng 1,3%; Đà Nẵng tăng 1%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,2%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 0,2%.

    Nguồn: Tổng cục Thống kê

  • Sao cứ lao vào thép!

    Thị trường Việt Nam vẫn có thể hấp thụ được thép do nhu cầu đang tăng. Song, thép trong nước cạnh tranh được hay không lại là bài toán cần cân nhắc trước khi quyết định mở rộng ngành này.

    Theo số liệu từ Bộ Công Thương, 8 tháng đầu năm 2016, nhập khẩu thép ước đạt 12,6 triệu tấn với kim ngạch 5,26 tỉ USD, tăng 27,3% về lượng và 2,1% về kim ngạch so với cùng kỳ. Đại diện bộ này cũng cho rằng hiện Việt Nam nhập thép quá lớn, riêng năm 2016 dự kiến nhập đến 22 triệu tấn thép quy đổi, đã tác động rất lớn đến cán cân thương mại, giảm sức cạnh tranh của ngành công nghiệp chế tạo, công nghiệp hỗ trợ.

    Vẫn thiếu 15 triệu tấn thép?

    Ông Trương Thanh Hoài - Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nhẹ, Bộ Công Thương - cho biết dự báo 4 năm nữa, nhu cầu thép cả nước sẽ đạt mức 27 triệu tấn. Như vậy, ngay cả khi giai đoạn I của Formosa đi vào hoạt động, cả nước vẫn thiếu 15 triệu tấn thép và mức thiếu hụt có thể tăng lên 22 triệu tấn vào năm 2025. “Doanh nghiệp nhập khẩu lượng thép lớn, mỗi năm 6-7 tỉ USD. Nếu thừa thép thì làm sao lại nhập nhiều như thế? Do đó, nếu không sớm bổ sung dự án mới thì 4 năm nữa, ngành thép ngày càng phụ thuộc vào nhập khẩu, nhập siêu ngày càng trầm trọng” - ông Hoài nói.

    Cũng theo vị vụ trưởng này, việc bổ sung vào quy hoạch dự án khu liên hợp cán thép Hoa Sen Cà Ná - Ninh Thuận với tổng vốn đầu tư 10,6 tỉ USD là không vội vàng. Quy hoạch của dự án dựa trên tiềm năng của khu vực Cà Ná và năng lực sơ bộ của chủ đầu tư.

    Theo giới chuyên gia, thị trường thép Việt Nam đúng là vẫn còn dung lượng để hấp thụ. Số liệu của Hiệp hội Thép thế giới cho thấy Việt Nam năm 2014 có nhu cầu tiêu dùng lên đến 16,8 triệu tấn và phải nhập thuần 11 triệu tấn thép thô. Nhu cầu thép ở Việt Nam lớn hơn nhiều so với năng lực sản xuất 5,8 triệu tấn/năm, thậm chí nhu cầu này đã tăng mạnh từ sau năm 2011.

    Đối mặt với giá thép tụt dốc

    Tuy nhiên, nhu cầu thị trường chỉ là một phần, vấn đề rất quan trọng hiện nay là giá. Liệu thép sản xuất trong nước có cạnh tranh được với lượng thép dư thừa và chính sách giảm giá của Trung Quốc bởi so với cùng kỳ năm trước, giá thép nhập khẩu từ Trung Quốc giảm ít nhất 17,22%.

    Chuyên gia kinh tế Vũ Quang Việt cho biết Trung Quốc hiện là một công xưởng khổng lồ trong sản xuất thép với sản lượng năm 2015 là 804 triệu tấn thép thô, chiếm hơn 50% thị trường thế giới.

    Trong nửa đầu năm 2016, số liệu do Bộ Công Thương công bố cũng cho thấy Trung Quốc sản xuất 339,5 triệu tấn thép, chỉ giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước và giảm ít hơn so với dự đoán. Trung Quốc cũng là quốc gia có sản lượng sản xuất thép tăng kỷ lục theo cấp số nhân khi chỉ từ năm 2000-2014, sản lượng thép trên thế giới tăng 96% thì của Trung Quốc tăng đến 640%.

    Trong khi đó, giới chuyên gia chỉ ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới từ nửa cuối năm 2008 đã tạo ra khủng hoảng thừa thép và làm giảm giá mặt hàng này chưa từng thấy. Do vậy, dù Trung Quốc cố gắng duy trì mức tăng trưởng ngành cao nhưng vẫn không được như trước.

    Đối mặt với thực trạng tiêu dùng thép năm 2014 tăng trưởng âm 3,3% và năm 2015-2016 sẽ ở mức âm 0,5%/năm, Trung Quốc đứng trước áp lực tìm mọi cách xuất khẩu khối lượng thép dư thừa ngày càng nhiều. Trong đó, phá giá mặt hàng này là một trong những cách được Trung Quốc lựa chọn. Đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến việc Mỹ ấn định thuế nhập khẩu 266% lên một số loại thép của Trung Quốc.

    Chuyên gia kinh tế Bùi Trinh đặt nghi vấn trong bối cạnh thép thế giới dư thừa, sao không nhập khẩu để phục vụ sản xuất trong nước? “Nếu giờ sản xuất thêm thép thì xét về hiệu quả sẽ không lan tỏa trong nền kinh tế. Hơn nữa, sản xuất thép trong nước hiện đã có 4 doanh nghiệp, thêm Formosa là 5. Tiếp tục mở rộng sản xuất để các doanh nghiệp hưởng bảo hộ thì người tiêu dùng sẽ không được hưởng lợi” - ông Trinh nhận định.

    Theo các chuyên gia, xung quanh dự án thép Cà Ná, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là liệu có cần xem xét lại khả năng đánh giá dự án của Bộ Công Thương trong việc phê duyệt dự án này vào quy hoạch. Ngoài ra, chấp nhận dự án chính là chấp nhận việc thu hồi đất, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống nhân dân.

    Theo Phương Nhung (Người lao động)

  • Sắt thép, xi măng "được mùa" xuất khẩu

    Xuất khẩu sắt thép đạt gần 1,9 tỷ USD, xuất khẩu xi măng đạt 430,6 triệu USD trong 8 tháng năm 2017, tăng tương ứng 13,3% và 43% so với cùng kỳ năm trước.

    sat-thep-xi-mang-duoc-mua-xuat-khau1505413508

    Xi măng không lo hụt chỉ tiêu

    Năm 2017, ngành xi măng đặt mục tiêu xuất khẩu 17 triệu tấn, nhưng mới qua 8 tháng đầu năm nay đã đạt trên 12 triệu tấn.

    Bangladesh và Philippines vẫn là 2 thị trường xuất khẩu xi măng và clinker lớn nhất của Việt Nam, trong đó, thị trường Bangladesh dẫn đầu với sản lượng xuất khẩu đạt 4,9 triệu tấn, trị giá 144 triệu USD. Thị trường Philippines đứng thứ 2, với 3,15 triệu tấn, trị giá 141 triệu USD; Đài Loan đạt 661 triệu tấn, với kim ngạch 19,5 triệu USD…

    Theo ông Nguyễn Quang Cung, Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam, xuất khẩu xi măng tăng hơn 20% đã vượt kỳ vọng của ngành, trong điều kiện phải đối đầu sự cạnh tranh với các tập đoàn xi măng của các nước láng giềng và xu thế giảm giá xi măng, clinker vốn đã kéo dài 2 năm nay.

    Công ty cổ phần Xi măng Sông Lam mới đưa Nhà máy Xi măng Sông Lam (với 2 dây chuyền, công suất hơn 4 triệu tấn) vào hoạt động từ tháng 10/2016, nhưng hiện giờ đã chạy hết công suất do kín đơn hàng xuất khẩu.

    Bà Đỗ Thị Hằng, Phó giám đốc Công ty cổ phần Xi măng Sông Lam cho biết, cạnh tranh xuất khẩu xi măng của Việt Nam với các nước trong khu vực rất khắc nghiệt, nhưng với thâm niên xuất khẩu cả chục năm, Công ty vẫn được khách đặt hàng trong dài hạn với sản lượng lớn, đảm bảo tiêu thụ ở mức cao nhất đối với sản phẩm của nhà máy mới.

    Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, 8 tháng qua, xuất khẩu xi măng và clinker của Việt Nam đã tăng 20,7% về lượng và 13,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016.

    Cụ thể, tổng lượng xi măng và clinker xuất khẩu đã đạt 12,2 triệu tấn, thu về 430,6 triệu USD.

    Liên tục trong những tháng gần đây, sản lượng xi măng, clinker xuất khẩu đều duy trì “phong độ” khá ổn định, đạt 1,3 - 1,4 triệu tấn/tháng, với giá xuất khẩu có tăng nhẹ.

    Chỉ tính riêng trong tháng 8/2017, Việt Nam đã xuất khẩu gần 1,4 triệu tấn xi măng và clinker, trị giá 55 triệu USD, so với tháng 7/2017, giảm 0,9% về lượng, nhưng tăng 7% về kim ngạch.

    Thu gần 1,9 tỷ USD từ xuất khẩu sắt thép

    Là ngành đang chịu nhiều khó khăn từ chính sách phòng vệ thương mại của nhiều thị trường nhập khẩu chính, nhưng kim ngạch xuất khẩu sắt thép trong 8 tháng qua vẫn mang về lượng ngoại tệ tới 1,835 tỷ USD, tăng 27% về lượng và tăng 43% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), ASEAN vẫn là thị trường xuất khẩu chính của ngành sắt thép trong 8 tháng qua, với lượng xuất khẩu hơn 1,3 triệu tấn, chiếm tới 58% tổng lượng thép thành phẩm xuất khẩu. Các sản phẩm Việt Nam có lượng xuất khẩu tăng trưởng tốt là ống thép hàn (tăng 320%), thép xây dựng (tăng 45%), tôn mạ (tăng 24%)...

    Đóng góp lớn trong việc gia tăng sản lượng và giá trị xuất khẩu sắt thép từ đầu năm đến nay là Công ty cổ phần Tập đoàn Hoà Phát (Mã: HPG), với sản lượng xuất khẩu gia tăng đột biến, gấp 9 lần so với cùng kỳ năm trước.

    Số liệu thống kê của Hòa Phát cho thấy, 8 tháng năm 2017, Hòa Phát đã xuất khẩu 116.000 tấn, trong khi cùng kỳ năm trước chỉ xuất khẩu được gần 12.000 tấn.

    Lãnh đạo Thép Hòa Phát cho biết, từ nửa cuối tháng 9 trở đi, thị trường có khả năng tiêu thụ tốt hơn, nên Tập đoàn đang phát huy tối đa công suất nhằm phục vụ nhanh nhất mọi nhu cầu của khách hàng.

    Theo nhận định của VSA, triển vọng xuất khẩu thép của Việt Nam trong năm 2017 là khả quan, bởi dự báo xuất khẩu thép của Trung Quốc trong năm nay có thể giảm do nhu cầu nội địa tăng mạnh để phục vụ các dự án xây dựng cầu đường, thủy điện và giao thông... Ngoài ra, trước các vụ kiện phòng vệ thương mại ở quy mô toàn cầu, các doanh nghiệp thép Trung Quốc đang phải cân nhắc, điều chỉnh xuất khẩu để không ảnh hưởng tới toàn bộ ngành công nghiệp thép Trung Quốc. Đây cũng là thuận lợi để doanh nghiệp thép Việt Nam chớp thời cơ tăng xuất khẩu.

     

  • Thép Hòa Phát chuyển mình

    Sau 10 năm vừa đầu tư xây dựng, vừa sản xuất, kinh doanh, Công ty CP Thép Hòa Phát ở xã Hiệp Sơn (Kinh Môn) đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ...

    Thành công vượt bậc nhờ đầu tư bài bản

    Công ty CP Thép Hòa Phát được thành lập tháng 8/2007 để thực hiện dự án trọng điểm của Tập đoàn Hòa Phát là Khu liên hợp (KLH) Gang thép Kinh Môn. Cuối năm 2007, bên bờ hữu của sông Kinh Thầy, Tập đoàn đã khởi công xây dựng KLH Gang thép Hòa Phát. Thời điểm đó, nhắc đến công nghiệp ở Kinh Môn là người ta nghĩ ngay đến các nhà máy xi măng như Hoàng Thạch, Phúc Sơn, Phú Tân, Trung Hải... ở phía bờ tả sông Kinh Thầy. Còn phía bên này sông, nơi Hòa Phát khởi công xây dựng nhà máy chủ yếu vẫn là ruộng đồng và các khu chuyển đổi nuôi cá.

    Với bản lĩnh và nguồn lực vững mạnh của một tập đoàn lớn, đến cuối năm 2009, Hòa Phát đã hoàn thành giai đoạn I KLH với mức đầu tư 2.500 tỷ đồng, công suất 350.000 tấn phôi thép/năm. Năm 2010, tập đoàn tiếp tục thực hiện giai đoạn II với công suất tương tự và đầu tư thêm nhà máy cán thép nóng, nâng tổng công suất lên 1 triệu tấn thép/năm. Đến năm 2016, Hòa Phát tiếp tục hoàn thành đầu tư giai đoạn III, nâng tổng công suất nhà máy lên 1,7 triệu tấn thép/năm. Công ty CP Thép Hòa Phát hiện nay có công suất và sản lượng đứng đầu miền Bắc.


    Năm 2017, Công ty CP Thép Hòa Phát là doanh nghiệp nộp ngân sách nhiều thứ hai của tỉnh Hải Dương. 

    Để có những bước phát triển vượt bậc ấy, Công ty CP Thép Hòa Phát đã đầu tư bài bản, đúng hướng. Thép Việt Nam phải cạnh tranh mạnh mẽ với thép Trung Quốc. Không ít dự án thép đầu tư trong giai đoạn này tại Hải Dương như Vạn Lợi (Bình Giang) đã phá sản, Công ty CP BCH chuyên sản xuất phôi thép ở Kim Thành cũng gần như đóng cửa...

    Ngay từ khi đầu tư KLH Gang thép, Công ty CP Thép Hòa Phát đã xác định sản xuất thép vốn là ngành gây ô nhiễm môi trường và tiêu hao năng lượng lớn. Để khắc phục điều này, ngoài sử dụng các thiết bị, công nghệ nhập ngoại tiên tiến, đơn vị còn xây dựng Nhà máy Sản xuất than cốc và nhiệt điện trong KLH. Các nhà máy này áp dụng cơ chế thu hồi nhiệt để phát điện đạt công suất 52 MW, đáp ứng được trên 40% nhu cầu điện phục vụ sản xuất của KLH. Toàn bộ khí, chất thải sinh ra từ quá trình luyện cốc được triệt tiêu và thu hồi hoàn toàn để chạy turbin máy phát điện, không xả ra môi trường. Đây thực sự là nét ưu việt về công nghệ mà hiếm có nhà sản xuất thép nào tại Việt Nam có được, góp phần đem lại lợi thế cạnh tranh đáng kể cho thép Hòa Phát.

    Trong công đoạn luyện và cán thép, KLH còn lắp đặt hệ thống thu hồi triệt để khí than lò thổi, lắp đặt máy hàn phôi tự động, sử dụng phôi nóng để cán thép dài. Các giải pháp đã góp phần làm giảm tiêu hao điện 30 - 40% ở công đoạn lò cao và giảm tiêu hao khí đốt 20-30% ở công đoạn cán thép.

    Về nguồn nước sản xuất, theo tính toán, KLH thép sử dụng khoảng 57.000 m3/giờ. Toàn bộ lượng nước được sử dụng tuần hoàn trong tất cả các công đoạn, không xả ra môi trường. Nhờ sử dụng tuần hoàn, KLH chỉ phải bổ sung lượng nhỏ nước hằng ngày do bị bay hơi sau quá trình làm mát động cơ, luyện, cán thép, giúp tiết kiệm chi phí hàng chục tỷ đồng mỗi năm.

    Điểm sáng về nộp ngân sách

    Ông Nguyễn Đức Duyến, Phó Giám đốc Công ty CP Thép Hòa Phát cho biết: "Sau hơn 10 năm vừa đầu tư, vừa sản xuất, năm 2017, Công ty đã vượt công suất, đạt hơn 1,87 triệu tấn thép, doanh thu đạt trên 20.000 tỷ đồng. Năm 2018, đơn vị sẽ cải tạo lò để nâng công suất lên hơn 2 triệu tấn/năm. Với công suất này, cùng với những ưu đãi về thuế giảm đi, đến năm 2019, chắc chắn chúng tôi sẽ còn đóng góp lớn hơn cho ngân sách Hải Dương".

    Năm 2017, trong bối cảnh Hải Dương phải tự cân đối ngân sách với sự hụt thu rất lớn từ Công ty TNHH Ford Việt Nam, Công ty CP Thép Hòa Phát đã vươn lên trở thành doanh nghiệp có số nộp ngân sách lớn thứ hai (chỉ sau Công ty TNHH Ford Việt Nam). Tổng số thuế công ty nộp vào ngân sách tỉnh năm 2017 ước đạt 2.190 tỷ đồng, trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp hơn 1.000 tỷ đồng, thuế giá trị gia tăng hơn 600 tỷ đồng, thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu 483 tỷ đồng... So với năm 2016, số nộp ngân sách của Thép Hòa Phát tăng gấp gần 3 lần.

    Hiện nay, công ty đang tạo việc làm cho 4.780 lao động chủ yếu là người địa phương với thu nhập bình quân hơn 7,7 triệu đồng/người/tháng. Sản xuất, kinh doanh phát triển nên trong 2 năm trở lại đây, công ty đã dành hơn 14 tỷ đồng để cải tạo, sửa chữa, xây mới, tài trợ bàn ghế cho Trường THCS Hiệp Sơn, Bệnh viện Đa khoa huyện Kinh Môn, xây dựng các công trình phúc lợi như điện, đường, trạm bơm, ủng hộ Quỹ Vì người nghèo, tặng quà Tết cho người nghèo, thăm hỏi gia đình chính sách tại địa phương.

    10 năm là chặng đường không dài cho một dự án lớn, nhưng với những gì Công ty CP Thép Hòa Phát đã và đang đạt được cho thấy "thành công chỉ đến khi có sự đầu tư bài bản, đúng hướng". Thời gian tới, doanh nghiệp này sẽ còn đóng góp lớn hơn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Hải Dương.
     
  • THÉP ÚC “THÉP CHUỘT TÚI” – 20 NĂM GIÁ TRỊ ÚC VỮNG CUỘC SỐNG VIỆT

    Được thành lập từ năm 1997, Thép Úc “Thép Chuột Túi” có 100% vốn đầu tư từ nước ngoài – Tập đoàn Đầu tư Công nghiệp Việt Nam (VII) của Úc – được niêm yết trên thị trường chứng khoán Australia từ 1995, hiện đang đầu tư vào các lĩnh vực tại Việt Nam như […]

    TU.-Avatar-Thep-Uc-ban-chuan-900x900-ndtcc36fhcwzpm441eflgc91fh1nzw90b0ofed1kq6

    Được thành lập từ năm 1997, Thép Úc “Thép Chuột Túi” có 100% vốn đầu tư từ nước ngoài – Tập đoàn Đầu tư Công nghiệp Việt Nam (VII) của Úc – được niêm yết trên thị trường chứng khoán Australia từ 1995, hiện đang đầu tư vào các lĩnh vực tại Việt Nam như phôi thép, thép xây dựng, tấm lợp, lưới thép hàn, khung nhà tiền chế,… Với nền tảng vững chắc đó, Thép Úc trong suốt 20 năm hình thành và phát triển luôn kiên định cùng những giá trị cốt lõi:

    • ĐÍCH THỰC: Nhà máy sản xuất Thép Úc sở hữu dây chuyền đồng bộ hiện đại bậc nhất của hãng Danieli – Italy, thiết bị thí nghiệm đạt tiêu chuẩn ISO/IEC 17025, máy thử vạn năng 100 tấn,… vận hành cùng quy trình giám sát nghiêm ngặt, đảm bảo cho mỗi sản phẩm gắn tên Thép Úc “Thép Chuột Túi” mang Giá trị đích thực cho mọi công trình.

    • TINH THÔNG: Không chỉ thấu hiểu công nghệ, Thép Úc đạt đến sự tinh thông trong hoạt động quản lý điều hành từ sản xuất tới kinh doanh, được ứng dụng và cập nhật mới hệ thống quản trị doanh nghiệp toàn cầu từ công ty mẹ tại Úc và hệ thống quản lý chất lượng Quốc tế ISO9001.

    • NHÂN ÁI: Tại Thép Úc, yếu tố con người luôn được coi trọng và đề cao. Khi đặt nhà máy tại Thành phố cảng Hải Phòng, Thép Úc đã tạo ra hàng trăm việc làm mới cho người dân địa phương với chế độ lương, thưởng cùng các phúc lợi hấp dẫn như rèn luyện thể thao, chăm sóc sức khỏe, du lịch thường niên, khám phá thế giới,… Quỹ “Thép Chuột Túi – gắn kết yêu thương” được thành lập để chia sẻ đến các hoàn cảnh đặc biệt của CBCNV, đồng hành cùng Thép Úc trong các hoạt động xã hội từ thiện như giúp đỡ những gia đình/trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và nhiều hoạt động thiện nguyện khác trên khắp cả nước,… Tất cả tạo nên một Thép Úc đầy nhân ái và trách nhiệm cộng đồng.

    THÉP ÚC “Thép Chuột Túi” luôn tự hào là Nhà sản xuất thép đầu tiên tại Việt Nam sản xuất thành công: thép mác cao Gr460A theo tiêu chuẩn Anh, Gr500N theo tiêu chuẩn Australia/ NewZealand để xuất khẩu sang các thị trường Úc, Singapore, Hong Kong…; thép mác cao RB500 theo công nghệ Quenching và thép cuộn vằn D8.

    Sản phẩm THÉP ÚC “Thép Chuột Túi” đã và đang được sử dụng cho các công trình trọng điểm như: Nhà máy xi măng Hải Phòng, Thùy Dương Plaza Hải Phòng, Trung tâm hội nghị Quốc Gia, Nhà máy lọc dầu Dung Quất/ Nghi Sơn, cầu Vĩnh Tuy, cầu Phù Đổng, các dự án Cầu tại quốc lộ 1A/ quốc lộ 10/ quốc lộ18, cao tốc Hà Nội – Hải Phòng/ Quảng Ninh – Hải Phòng, Vietinbank Tower, cầu Hoàng Văn Thụ – Tp Hải Phòng,… và nhiều công trình trọng điểm khác trên khắp Việt Nam. Đặc biệt THÉP ÚC “Thép Chuột Túi” đã được hàng triệu người Việt Nam tin tưởng và lựa chọn khi xây dựng Ngôi nhà thân yêu của mình.

    Trong 20 năm hình thành và phát triển, THÉP ÚC “Thép Chuột Túi” đã xây dựng thành công một hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế, tạo nên các giá trị chuẩn Úc được thể hiện ở ĐÍCH THỰC, TINH THÔNG, NHÂN ÁI – những giá trị này còn tiếp tục được gieo mầm trên khắp dải đất hình chữ S trong hành trình tiếp theo của THÉP ÚC “Thép Chuột Túi”.

    SSE-768x510

    Tối ngày 18-8-2017, Công ty Thép Úc (SSE) tổ chức kỷ niệm 20 năm ngày thành lập. Nhân dịp này Công ty được tặng cờ thi đua xuất sắc của Chính phủ và cá nhân được bằng khen của Thủ tướng; Bộ Công thương đồng thời UBND thành phốHải Phòng cũng  tặng bằng khen cho 4 cá nhân và 1 tập thể tiêu biểu.

    Nguồn: Vsa.com.vn

     

  • Thép Việt Ý – Sự giải phóng trong sáng tạo kiến trúc

    Đây là chủ đề của Hội thảo do Hội Kiến trúc sư Việt Nam phối hợp với Cty CP Thép Việt Ý (VIS) tổ chức tại Hà Nội, ngày 27/10.

    Chia sẻ tại hội thảo, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam Nguyễn Tấn Vạn cho biết: Hội Kiến trúc sư Việt Nam luôn ủng hộ cho việc sử dụng công nghệ thép trong việc xây dựng các công trình, nhất là các công trình kiến trúc xanh. Bởi thép là vật liệu bảo vệ môi trường xây dựng, cho phép thi công công trình nhanh, tạo không gian lớn, dễ tạo sự đột phá trong sáng tạo kiến trúc. Nói cách khác, thép cho cơ hội giải phóng trong sáng tạo kiến trúc.

    Ông Vạn nhận định: Hiện nay các công trình cao trên thế giới đều là những công trình sử dụng kết cấu thép. Trong khi Việt Nam, đất nước xuất khẩu thép lại chưa có nhiều công trình sử dụng kết cấu thép. Do vậy, tại hội thảo này, Hội Kiến trúc sư Việt Nam mong muốn các kiến trúc sư hiểu hơn về vật liệu thép, khả năng của vật liệu này, từ đó suy nghĩ sáng tạo các công trình có sử dụng thép với chất lượng tốt hơn.

    Tại hội thảo, VIS đã khiến các nhà tư vấn hào hứng khi giới thiệu về 2 dòng sản phẩm thép xây dựng (thép cốt trong bê tông) chất lượng cao là thép CB4 và CB5, với khả năng chịu lực mác lần lượt là CB400V và CB500V.

    Ông Trần Ngọc Anh - Giám đốc Kinh doanh VIS cho biết: Thép thông thường có mác CB300V nhưng từ lâu Nhà máy thép Việt Ý chỉ sản xuất các thép chất lượng cao mác CB400V và CB500V.

    Điểm mạnh của sản phẩm là thép mác cao CB400V và CB500V sử dụng nguồn phôi thép được sản xuất với công nghệ hiện đại, nên cho ra đời chất lượng thép đồng đều, ổn định hơn so với thép mác thấp CB300V (có thể sử dụng nguồn phôi thép trung tần thủ công, không ổn định chất lượng, thép dễ gãy).

    Bản thân thép CB400V và thép CB500V cũng được sản xuất trên dây chuyền công nghệ hiện đại, với phôi thép tốt, nên sản phẩm có chất lượng cao, khả năng chịu lực và độ bền cao hơn các thép mác thông thường. Sử dụng thép CB4, CB5, chất lượng và tuổi thọ công trình cũng được tăng lên.

    Theo phân tích của đại diện VIS, đối với chủ đầu tư, nhà thầu, thép CB4 và CB5 cho phép tiết kiệm được 14% khối lượng thép trong công trình (so với thép thông thường), giúp giảm thời gian thi công, đẩy nhanh tiến độ xây dựng và tiết kiệm chi phí thi công do giảm cấu kiện dầm, cột. Thép CB4, CB5 còn tạo điều kiện cho kiến trúc sư giảm kích thước cấu kiện chịu lực (dầm, cột) theo ý đồ thiết kế, tăng không gian sáng tạo và tăng không gian sử dụng của công trình.

    Hiện thép CB4 và CB5 của VIS đã được các chủ đầu tư, nhà thầu tin tưởng sử dụng trong nhiều công trình lớn, nhỏ trong cả nước, điển hình như công trình Nhà Quốc hội. Nhà thầu Nhật Bản sử dụng thép CB4, CB5 trong dự án cầu Nhật Tân, dự án đường sắt trên cao Nhổn – Ga Hà Nội. Vingroup sử dụng thép CB5 trong tất cả các dự án do họ làm chủ đầu tư…

    Đối với các công trình dân dụng, thép CB4 cũng được sử dụng nhiều trong các công trình nhà cao tầng vì tính hiệu quả của nó. Riêng với khách hàng là hộ dân, thép chất lượng cao CB4 thường bị cho là cứng, các đội thi công thủ công khó uốn, cắt thép. Điều này ít nhiều là rào cản khiến thép chất lượng cao CB4, CB5 ít được các hộ dân lựa chọn, cho dù giá thép chất lượng cao CB4, CB5 không chênh nhiều so với giá thép thông thường.

    Để khắc phục tình trạng này, bên cạnh công tác tuyên truyền để khách hàng hiểu lợi ích của việc sử dụng thép chất lượng cao CB4, CB5, VIS cũng đã hỗ trợ các nhà thầu thi công thiết bị uốn thép.

    Hiện VIS có 2 nhà máy. Đó là Nhà máy thép Việt Ý sử dụng công nghệ Danieli (Italy), công suất 300.000 tấn năm và Nhà máy phôi thép Việt Ý, công nghệ Consteel Techint Corp (Italy), công suất 600.000 tấn/năm. VIS đang chiếm 6% thị phần thép xây dựng cả nước, 12% thị phần thép xây dựng miền Bắc.

    Nguồn : baoxaydung.com.vn

  • Trung Quốc: Tồn kho thép giảm mạnh

    Tồn kho thép Trung Quốc đang giảm mạnh sau khi chạm đỉnh nhiều năm hồi đầu năm. Điều này giúp củng cố lòng tin nhà đầu tư và đẩy giá phục hồi trong suốt một tháng qua.


    Một trong những yếu tố khiến giá thép đầu năm 2018 giảm mạnh do thị trường dự đoán nhu cầu từ Trung Quốc sẽ không được như kỳ vọng. Chuyên gia phân tích đến từ ngân hàng ANZ ông Daniel Hynes và ông Soni Kumari cho rằng việc tồn kho thép giảm mạnh giúp củng cố lòng tin nhà đầu tư và đẩy giá phục hồi trong suốt một tháng qua.
     
    Tồn kho thép Trung Quốc đang có xu hướng giảm mạnh.

    “Giá thép phục hồi trong tháng 4. Một phần là do tồn kho giảm. Cụ thể, tồn kho thép giảm tới 30% từ ngưỡng đỉnh 4 năm hồi tháng 3 là 19 triệu tấn”, hai vị chuyên gia nhận định. Điều này giúp xóa đi nỗi lo nhu cầu mua thép dự trữ giảm.

    Tồn kho giảm, giá thép và biên lợi nhuận tăng mạnh khiến nhiều người hoài nghi liệu rằng các nhà máy sẽ tăng cường sản lượng, kéo theo nhu cầu nguyên liệu thô tăng.Trong khi đó, giá các nguyên liệu đầu vào như quặng sắt, than mỡ luyện cốc giảm giúp biên lợi nhuận của các nhà máy tăng cao, gần bằng so với cuối năm ngoái.

    Hynes và Kumari cho rằng giá quặng sắt 6 tháng cuối năm có thể tăng lên ngưỡng 68 USD/tấn. Hiện giá quặng sắt 62% ở mức 66,46 USD/tấn, theo dữ liệu từ Metal Bulletin.

    Nguồn: http://vatlieuxaydung.org.vn

  • Việt Nam xuất khẩu sắt thép sang Hoa Kỳ thế nào?

    Hoa Kỳ đang là một trong những thị trường xuất khẩu lớn của mặt hàng sắt thép nước ta, và mức giá bình quân xuất sang thị trường này cao hơn khá nhiều so với bình quân chung cả nước.

    Theo thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan, hết tháng 2, cả nước xuất khẩu 919.771 tấn sắt thép các loại, với tổng trị giá kim ngạch đạt gần 655,3 triệu USD. Như vậy, tính bình quân mỗi tấn sắt thép xuất khẩu có giá 712,4 USD.

    So với cùng kỳ 2017, kết quả xuất khẩu sắt thép tăng 39,7% về sản lượng và 59,2% về trị giá.
    Trong đó Hoa Kỳ cùng với Campuchia, Indonesia và Malaysia là 4 thị trường xuất khẩu lớn nhất với sản lượng 2 tháng đầu năm đạt trên 100.000 tấn mỗi thị trường.
    Lớn nhất là Campuchia với 168.037 tấn, kim ngạch 105,23 triệu USD; Indonesia 134.317 tấn, kim ngạch 100,36 triệu USD; Hoa Kỳ 124.573 tấn, kim ngạch đạt 104,23 triệu USD; Malaysia 114.363 tấn, kim ngạch 73,85 triệu USD.
    Như vậy, trong các thị trường chủ lực kể trên, Hoa Kỳ là nơi có mức giá xuất khẩu bình quân cao nhất đạt 836,8 USD/tấn, trong khi Campuchia là 626 USD; Indonesia là 747 USD tấn; Malaysia là 645,7 USD. Mức giá xuất khẩu bình quân vào Hoa Kỳ cũng cao hơn bình quân chung cả nước 124,4 USD/tấn (tương đương khoảng 2,8 triệu đồng).
    Với tổng sản lượng 541.290 tấn, 4 thị trường chủ lực này chiếm gần 59% tổng sản lượng thép xuất khẩu cả nước trong 2 tháng qua, và tổng trị giá kim ngạch của 4 thị trường (đạt gần 384 triệu USD) chiếm khoảng 58,6% thị phần kim ngạch cả nước.
    So với cùng kỳ 2017, sản lượng sắt thép xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng gần 110%, trong khi kim ngạch tăng gần 120%. Việc tốc độ tăng trưởng kim ngạch cao hơn sản lượng giúp mức giá sắt thép xuất khẩu bình quân vào Hoa Kỳ cũng tăng thêm gần 37 USD/tấn (cùng kỳ 2017 đạt khoảng 800 USD/tấn).
    Ngoài sắt thép các loại, 2 tháng đầu năm 2018, cả nước xuất khẩu gần 74 triệu USD sản phẩm từ sắt thép sang thị trường Hoa Kỳ, chiếm 16,7% tổng trị giá kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước trong cùng thời điểm.
     
    Ngày 8/3 (giờ địa phương), Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump ký quyết định áp mức thuế nhập khẩu mới với các mặt hàng thép và nhôm vào thị trường nước này. Trong đó thép chịu mức thuế mới 25% và 10% với nhôm.
    Là một trong những thị trường xuất khẩu thép chủ lực của Việt Nam, quyết định của Tổng thống Hoa Kỳ được dự báo sẽ có tác động không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu sắt thép của Việt Nam trong thời gian tới.
    Nguồn: Báo Hải quan
  • Xuất khẩu vật liệu xây dựng xi măng sắt thép đang được mùa bội thu

    Đối mặt với nhiều thách thức rào cản từ phía các nước nhập khẩu như hàng rào thuế quan, chống bán phá giá với thị trường sở tại nhưng một số mặt hàng vật liệu xây dựng chính như sắt thép, xi măng đã có những tín hiệu tích cực.

    thuong-truong-thep

    Theo ông Nguyễn Quang Cung, Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam, xuất khẩu xi măng tăng hơn 20% đã vượt kỳ vọng của ngành, trong điều kiện phải đối đầu sự cạnh tranh với các tập đoàn xi măng của các nước láng giềng và xu thế giảm giá xi măng, clinker vốn đã kéo dài 2 năm nay.

    Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, 8 tháng qua, xuất khẩu xi măng và clinker của Việt Nam đã tăng 20,7% về lượng và 13,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016. Cụ thể, tổng lượng xi măng và clinker xuất khẩu đã đạt 12,2 triệu tấn, thu về 430,6 triệu USD.

    Chỉ tính riêng trong tháng 8/2017, Việt Nam đã xuất khẩu gần 1,4 triệu tấn xi măng và clinker, trị giá 55 triệu USD, so với tháng 7/2017, giảm 0,9% về lượng, nhưng tăng 7% về kim ngạch.

    Bangladesh và Philippines vẫn là 2 thị trường xuất khẩu ximăng và clinker lớn nhất của Việt Nam, trong đó, thị trường Bangladesh dẫn đầu với sản lượng xuất khẩu đạt 4,9 triệu tấn, trị giá 144 triệu USD. Thị trường Philippines đứng thứ 2, với 3,15 triệu tấn, trị giá 141 triệu USD; Đài Loan đạt 661 triệu tấn, với kim ngạch 19,5 triệu USD

    Sắt thép đang là ngành đang chịu nhiều khó khăn từ chính sách phòng vệ thương mại của nhiều thị trường nhập khẩu chính, nhưng kim ngạch xuất khẩu sắt thép trong 8 tháng qua vẫn mang về lượng ngoại tệ tới 1,835 tỉ USD, tăng 27% về lượng và tăng 43% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016.

    Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), ASEAN vẫn là thị trường xuất khẩu chính của ngành sắt thép trong 8 tháng qua, với lượng xuất khẩu hơn 1,3 triệu tấn, chiếm tới 58% tổng lượng thép thành phẩm xuất khẩu. Các sản phẩm Việt Nam có lượng xuất khẩu tăng trưởng tốt là ống thép hàn (tăng 320%), thép xây dựng (tăng 45%), tôn mạ (tăng 24%)

    Theo nhận định của VSA, triển vọng xuất khẩu thép của Việt Nam trong năm 2017 là khả quan, bởi dự báo xuất khẩu thép của Trung Quốc trong năm nay có thể giảm do nhu cầu nội địa tăng mạnh để phục vụ các dự án xây dựng cầu đường, thủy điện và giao thông.

    Nguồn: thuongtruong.com.vn

  • Đầu tháng 4, giá xi măng tăng nhẹ, giá thép xây dựng ổn định

    Theo thông tin từ Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), trong 15 ngày đầu tháng 4/2018, giá xi măng có xu hướng tăng so với cuối tháng 3 trong khi giá thép xây dựng cơ bản ổn định.

    Cụ thể, báo cáo của Sở Tài chính các tỉnh, thành phố cho thấy, giá bán lẻ xi măng 15 ngày đầu tháng 04/2018 có xu hướng tăng so với cuối tháng 3/2018; tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung hiện mức giá trung bình ở mức 1,15 triệu đồng/tấn; tại các tỉnh miền Nam giá bán trung bình ở mức 1,45 triệu đồng/tấn (giá bán giao trên phương tiện bên mua tại nhà máy).

    Về thép xây dựng, báo cáo của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thép cho thấygiá thép xây dựng tại một số nhà máy cơ bản ổn định. Hiện tại, giá bán tại các nhà máy sản xuất thép ở mức khoảng từ 11.500-14.500 đồng/kg (giá giao tại nhà máy, chưa bao gồm 10% thuế VAT, chiết khấu bán hàng).

    Giá thép xây dựng bán lẻ phổ biến trên thị trường các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động ở mức 11.500-14.800 đồng/kg; tại các tỉnh Miền Nam dao động ở mức 11.700-15.200 đồng/kg.

    Nguồn: https://cafeland.vn